Tìm kiếm
Marketplace
Tiếng Việt
Danh Mục Sản Phẩm
    Menu Close

    Profile: DeeQ

    Avatar
    Statistics
    • 13
    6 tháng ago

    chi mua o tiem vn dung khong? may tiem vn lam an mac uy tin lam

    7 tháng ago

    International Institutions
    Nếu bạn được nhận vào làm ở một trong các tổ chức quốc tế trong danh sách, thì bạn sẽ không bị bó buộc bởi nhiều luật lệ của CPT, OPT, hay các thứ linh tinh khác. Dẫu vậy, bạn vẫn nên nhờ ISO tư vấn làm giấy tờ. Công việc bạn làm cũng buộc phải thuộc phạm vi của tổ chức đó là liên quan tới ngành bạn học.

    Làm việc theo loại hình này, bạn vẫn có thể đi làm dù ngành học có thể không đòi hỏi bạn đi làm hoặc bạn không vừa đi làm vừa nhận tín chỉ và bất kể bạn làm trong bao lâu và thời lượng bao nhiêu, bạn vẫn có quyền nộp giấy tờ xin làm OPT sau khi tốt nghiệp.

    Lưu ý
    Nếu bạn được nhận vào làm ở một trong các tổ chức quốc tế trong danh sách, thì bạn sẽ không bị bó buộc bởi nhiều luật lệ của CPT, OPT, hay các thứ linh tinh khác. Dẫu vậy, bạn vẫn nên nhờ ISO tư vấn làm giấy tờ. Công việc bạn làm cũng buộc phải thuộc phạm vi của tổ chức đó là liên quan tới ngành bạn học. Làm việc theo loại hình này, bạn vẫn có thể đi làm dù ngành học có thể không đòi hỏi bạn đi làm hoặc bạn không vừa đi làm vừa nhận tín chỉ và bất kể bạn làm trong bao lâu và thời lượng bao nhiêu, bạn vẫn có quyền nộp giấy tờ xin làm OPT sau khi tốt nghiệp.

    7 tháng ago

    Severe Economic Hardship
    Nếu du học sinh chứng minh được khả năng tài chính của mình đột ngột bị mất thì có thể gửi giấy tờ đến Cục Di trú và Quốc tịch Mỹ và xin đi làm để trang trải cuộc sống.  Ví dụ, mất học bổng hoặc việc làm trong khuôn viên trường nhưng không phải do lỗi của bạn; giá chuyển đổi nội/ngoại tệ có biến động lớn nhanh chóng; học phí hoặc chi phí sinh hoạt tăng đột ngột; bệnh nặng đột xuất và nhiều chi phí nhanh chóng phát sinh...

    Bạn vẫn phải xin cấp thẻ EAD và không cần phải có giấy nhận việc trước khi xin cấp thẻ. Bạn không bị giới hạn làm việc cho công ty nào, ở đâu. Các bước làm giấy tờ thì bạn nên nhờ ISO tư vấn là tốt nhất. Để được cấp thẻ cho loại này, bạn cũng cần phải cho thấy điểm số tốt của mình cũng như việc bạn không thể kiếm đủ tiền từ các công việc trong khuôn viên trường và bạn đã rất cố gắng tìm việc trong khuôn viên trường.

    7 tháng ago

    Curricular Pratical Training (CPT)
    Đây là công việc nằm ngoài khuôn viên trường. Bạn chỉ có thể nộp đơn xin đi làm CPT khi chương trình học bắt buộc bạn phải đi làm thực tập (ví dụ: intern hay co-op) để được tốt nghiệp hoặc bạn nhất định phải được nhận tín chỉ cho các công việc loại này. Bạn được hưởng lương (nếu kiếm được việc chịu trả lương) và phải nộp giấy tờ online để được sự chấp thuận của Cục Di trú và Quốc tịch Mỹ.

    Đối với CPT, bạn chỉ có thể đi làm sau năm nhất và theo thời gian chỉ định bởi nơi thuê bạn và ISO. Tùy trường mà trong năm học, bạn có thể làm tối đa 20 tiếng/tuần hoặc ít hơn. Khác với OPT, bạn chỉ được nộp giấy xin làm CPT sau khi có xác nhận làm việc từ cơ quan thuê bạn. Nơi bạn làm cũng phải được ISO và giảng viên cố vấn duyệt qua trước, nếu muốn đổi, bạn phải xin phép lại từ đầu.

    Lưu ý rằng, Nếu bạn muốn đi làm để nhận tín chỉ trong mùa hè, bạn vẫn bắt buộc phải đăng ký lớp “Internship” và trả tiền cho khoá học nhé. Thế nên nếu công việc bạn làm không trả lương hoặc bạn không học hỏi gì được gì nhiều thì chẳng nên làm mùa hè.

    Nếu làm CPT toàn thời gian (hơn 20 tiếng/tuần) trong vòng 12 tháng hay hơn, thì bạn mất quyền xin làm OPT. Luôn thông báo cho ISO và người thầy cố vấn nếu có thay đổi về công việc, giờ làm, nghỉ phép, hoặc nghỉ việc.

    7 tháng ago

    Optional Practical Traning (OPT)
    Sinh viên quốc tế sở hữu visa F-1 được phép làm việc bên ngoài trường theo OPT cả trong và sau khi hoàn thành khóa học. OPT đòi hỏi bạn phải nộp giấy tờ để được sự chấp thuận của Cục Di trú và Quốc tịch Mỹ, cho phép bạn được hưởng lương (nếu kiếm được việc chịu trả lương), và bắt buộc việc bạn chọn phải liên quan trực tiếp tới ngành học. Nếu Cục Di trú và Quốc tịch Mỹ chấp nhận hồ sơ của bạn, họ sẽ gửi thẻ cấp phép lao động (Employment Authorization Ducument – EAD) qua thư.

    Bạn chỉ có thể xin làm OPT sau khi đã nhập học được 9 tháng nhưng sẽ chỉ được đi làm sau khi nhận EAD và học ít nhất 1 năm. Bên cạnh đó, công việc bạn làm buộc phải “liên quan trực tiếp” đến ngành học của bạn và phải nộp đơn trước khi kết thúc khóa học.

    Tổng thời gian bạn được làm OPT là 12 tháng và có thể làm nhiều công việc. Trong 12 tháng đó, tình trạng thất nghiệp của bạn chỉ được kéo dài tối đa là 90 ngày. Bên cạnh đó, công việc bạn làm buộc phải liên quan trực tiếp đến ngành học của bạn.

    Sau mỗi bậc học, bạn được nộp OPT 12 tháng (ví dụ: sau đại học bạn làm OPT, thì sau khi học thạc sĩ xong bạn vẫn có quyền làm OPT thêm 1 lần nữa). Nhưng với những ai đã hoàn thành 12 tháng Curricular Practical Training (CPT) thì không được nộp OPT.

    Nhớ rằng, bạn luôn phải thông báo cho ISO nếu có thay đổi về công việc, giờ làm, nghỉ phép, hoặc nghỉ việc. Sau khi OPT hết hiệu lực, bạn có 60 ngày để chuẩn bị việc rời khỏi Mỹ, nhận I20 từ chương trình học mới, hoặc chuyển đổi thể loại visa.

    Có 2 loại OPT là Trước tốt nghiệp và Sau tốt nghiệp

    OPT Trước tốt nghiệp
    Bạn có thể xin giấy tờ cho OPT (thẻ EAD) trước khi tốt nghiệp, nhưng sẽ chỉ được đi làm chính thức sau khi nhận EAD và học ít nhất 1 năm.

    Việc chọn ngày bắt đầu khá dễ, bạn được toàn quyền quyết định. Nếu bạn xin được việc để đi làm mùa hè khi còn đang đi học, nhưng không muốn đăng ký CPT và trả tiền học phí cho lớp "Internship", thì loại OPT này là lựa chọn khá tốt cho bạn. Nhưng nên nhớ là tổng thời hạn của OPT chỉ có 12 tháng, thời gian bạn được ở lại Mỹ sau tốt nghiệp sẽ ít hơn nếu bạn làm OPT trong năm học. Và trong năm học bạn cũng chỉ được làm tối đa 20 tiếng/tuần

    OPT Sau tốt nghiệp
    Việc chọn ngày bắt đầu OPT là một trong các yếu tố quyết định việc về hoặc ở sau khi tốt nghiệp của 1 học sinh du học. Chọn ngày quá sớm mà không có ai nhận vào làm, bạn sẽ rơi vào tình trạng thất nghiệp. Sau 90 ngày mà vẫn thất nghiệp thì OPT của bạn sẽ bị hết hiệu lực. Trong trường hợp này bạn có thể đi làm tình nguyện viên và các việc không trả lương để thoát khỏi việc thất nghiệp. Chọn ngày quá trễ thì sẽ có rất ít công ty muốn nhận vì thời lượng OPT còn lại của bạn quá ít.

    Để không phải đau đầu việc chọn ngày, bạn nên đi làm thực tập viên (internship/co-opt) hoặc xin việc càng sớm càng tốt và trễ nhất là trong học kỳ cuối của năm 4. Khi được nhận thì bạn có thể làm CPT trong năm học rồi tốt nghiệp xong thì xin OPT (và chọn ngày bắt đầu sớm) để được tiếp tục làm công việc hiện tại.
    Hồ sơ xin làm OPT sau khi tốt nghiệp của bạn chắc chắn phải có mặt ở văn phòng của Cục Di trú và Quốc tịch Mỹ trễ nhất là 60 ngày sau khi chương trình học kết thúc. Hồ sơ tới nơi sau ngày đó thì không được xét và bạn xem như bị mất quyền làm OPT.

    Nếu bạn muốn rời khỏi Mỹ khi đang làm OPT thì hãy cực kỳ cẩn trọng và phải xin ý kiến từ ISO. Trường hợp bạn rời đi sau khi tốt nghiệp nhưng trước khi nhận được EAD và nhận được công việc thì có thể bạn sẽ không được chấp thuận. Bạn có thể rời khỏi Mỹ sau khi hoàn tất văn bằng của mình và có được EAD và công việc. Nhưng nhớ phải mang đầy đủ hộ chiếu còn thời hạn, thẻ EAD hợp lệ, visa F-1 hợp lệ, và mọi I-20 với trang 3 cho thấy bạn được phòng ISO của trường ký tên trong vòng 6 tháng trước đó, thư mời làm việc (bao gồm ngày tháng, lương, chức vụ, thời gian làm việc, ngày ra khỏi và quay về Mỹ của bạn). Bạn tham khảo thêm về việc rời Mỹ khi đang làm OPT ở đây, nhưng nhớ phải xin ý kiến từ ISO nữa nhé.

    7 tháng ago

    On-Campus
    On-campus là loại hình thoải mái nhất vì bạn không cần phải xin phép từ Cục Di trú và Quốc tịch Mỹ (United States Citizenship and Immigration Services - USCIS). Tuy nhiên, cơ hội làm việc ở hầu hết các trường là không cao và bạn cũng không thể coi đây là chứng minh thu nhập thường xuyên (vì đa số các công việc đều chỉ trả lương theo mức tối thiểu). Ngoài ra, các sinh viên Mỹ luôn được ưu tiên nhận công việc on-campus. Nếu bạn muốn công việc loại này, hãy cố gắng đăng ký thật sớm và nên chọn 2 việc để phòng hờ.

    Các công việc có thể là: trợ giảng, gia sư, nghiên cứu sinh, làm trong thư viện/ký túc xá/văn phòng ở trường/nhà ăn/phòng máy tính và kỹ thuật…

    Nhiều trường sẽ đòi hỏi bạn phải xin phép ISO trước khi nộp hồ sơ hoặc nhận làm việc nào đó trong khuôn viên trường và chỉ cho phép bạn đi làm sau năm nhất. Trong năm học, bạn không được làm việc quá 20 giờ/tuần, nhưng bạn vẫn có thể làm toàn thời gian vào các kỳ nghỉ và dịp lễ nếu bạn vẫn tiếp tục học ở trường ở kỳ tiếp theo.

    Dù làm gì, bạn luôn cần tham khảo sự hướng dẫn từ văn phòng ISO trước khi xin hay nhận việc nào, cũng như yêu cầu được giải thích cụ thể bất kỳ tình huống nào mà bạn thấy mơ hồ. Bạn cũng cần có sự hướng dẫn của nhà trường để đảm bảo mình đã hoàn thành mọi giấy tờ với Cục Di trú và Quốc tịch Mỹ và nhận được sự cho phép cần thiết.

    7 tháng ago

    Tìm hiểu và tuân thủ các quy định nghiêm ngặt của loại visa F1 để tránh những rắc rối ngoài ý muốn, thậm chí là bị trục xuất khỏi đất Mỹ.
    Là sinh viên quốc tế, sở hữu visa F1, bạn hoàn toàn có cơ hội làm việc tại Mỹ. Tuy nhiên, hãy tìm hiểu và tuân thủ các quy định nghiêm ngặt để tránh những rắc rối ngoài ý muốn, thậm chí là bị trục xuất.

    Có 5 loại hình làm việc trong thời gian bạn học tập tại Mỹ và có visa F-1.

    On-campus (Làm việc tại trường) là dễ/đơn giản nhất, và 4 loại còn lại là

    Off-campus (Làm việc ngoài trường)

    OPT (Tập huấn không bắt buộc)

    CPT (Tập huấn bắt buộc)

    Economic Hardship (Gặp khó khăn tài chính)

    International Institutions (Tổ chức quốc tế).

    7 tháng ago

    Những thông tin cần ghi nhớ về kỳ thi SAT
    SAT (Scholastic Assessment Test): Nếu muốn nộp đơn vào các trường đại học có thứ hạng cao, hãy cố gắng đạt mốc 1.800 điểm trong kỳ thi SAT.

    Còn nếu quyết tâm hơn nữa, hãy cố gắng đạt đến mức 2.000 điểm, có thể cổng các trường đại học trong top 50 sẽ rộng mở chào đón bạn.

    Reasoning (còn được gọi là SAT I) được thiết kế để kiểm tra khả năng của học sinh thay vì chỉ là một bài kiểm tra kiến thức đơn thuần. Với thang điểm từ 600 đến 2.400, bài thi SAT I bao gồm ba phần: toán, đọc hiểu và viết, kéo dài trong khoảng 3 tiếng 45 phút. Đa phần các câu hỏi đều được thực hiện dưới dạng trắc nghiệm.

    Thời gian thi được chia thành 10 phần: một bài luận 25 phút, sáu phần 25 phút và hai phần 20 phút cho bài thi đọc hiểu, viết và toán học, một phần 10 phút cho thi trắc nghiệm viết. Có ba lần nghỉ giải lao giữa giờ.

    Bài thi SAT được chấm trên thang điểm từ 200-800, với điểm cho bài tiểu luận được chấm trên thang điểm từ 2-12. Các câu hỏi trắc nghiệmđược chấm trong phạm vi 20-80 điểm.

    Cấu trúc bài thi SAT I

    Phần 1: Toán : Bạn có 25 phút để trả lời 20 câu hỏi trắc nghiệm (A, B, C, D, E). - 25 phút để trả lời 8 câu hỏi trắc nghiệm (A, B, C, D, E) và 10 câu hỏi không có lựa chọn trả lời. - 20 phút để trả lời khoảng 16 câu hỏi trắc nghiệm (A, B, C, D, E).

    Phần 2: Đọc hiểu: Phần đọc hiểu của SAT gồm ba phần thi nhỏ, có tổng cộng 67 câu hỏi trắc nghiệm. Các câu hỏi trong phần đọc hiểu được chia làm hai loại:

    - Các câu hỏi về từ vựng: là các câu hỏi điền vào chỗ trống. Mục đích của các câu hỏi này là kiểm tra vốn từ vựng của học sinh, đặc biệt tập trung vào những từ khó mang tính chuyên môn.

    - Các câu hỏi cho bài đọc: tập trung vào hai kỹ năng chính là đọc lướt (skim) và đọc để tìm ý cụ thể trong bài (scan).

    Phần 3: Viết : Phần viết của SAT được dựa trên kỳ thi SAT II môn viết, bao gồm các câu hỏi ngắn và một bài luận. Các câu hỏi ngắn bao gồm phát hiện lỗi sai trong câu, phát triển câu, phát triển đoạn văn nhằm kiểm tra học sinh về ngữ pháp và khả năng sử dụng ngôn ngữ. Thời gian dành cho bài luận kéo dài 25 phút, nhằm đánh giá khả năng phân tích và nhận định của học sinh với một chủ đề học thuật bất kỳ.

    SAT Subject Tests (còn được gọi là SAT II) là phần thi SAT không bắt buộc.

    Tuy nhiên, với những bạn muốn nộp đơn vào các trường đại học có thứ hạng cao, việc có điểm SAT II sẽ là một lợi thế. SAT II bao gồm các bài thi đánh giá kiến thức của học sinh trong năm lĩnh vực chung: toán, lịch sử, khoa học, tiếng Anh và ngôn ngữ. Học sinh có thể tự chọn môn thi theo thế mạnh và sở trường của mình.

    Các bài thi chủ yếu là trắc nghiệm và mỗi bài mất khoảng một tiếng để hoàn thành. Điểm được chấm dựa trên thang điểm từ 200-800 với điểm từng phần từ 20-80.

    7 tháng ago

    Những thông tin cần ghi nhớ về kỳ thi ACT
    ACT (viết tắt của American College Testing) là kì thi đầu vào được chuẩn hóa của hầu hết các trường đại học và cao đẳng tại Mỹ nhằm dựa trên sự so sánh các thí sinh để đưa ra quyết định nhập học. Các bài kiểm tra của ACT không nhằm đánh giá độ thông minh, hay năng lực trí tuệ của học sinh, mà chỉ tập trung vào việc đánh giá những gì học sinh học được từ trường.

    Yêu cầu về điểm ACT không giống nhau giữa các trường, do đó thí sinh nên liên hệ trực tiếp với văn phòng tuyển sinh của trường dự định nhập học để nắm thông tin chi tiết. Kì thi ACT được tổ chức hàng năm vào tháng 9, 10, 11, 12, 2, 4 và tháng 6.

    Cấu trúc và cách tính điểm của ACT: Cấu trúc bài thi ACT có 4 phần: Anh văn, Đọc hiểu, Toán và Khoa học. ACT Plus Writing bao gồm các môn học nói trên cộng với một bài kiểm tra viết 30 phút. Bài thi ACT bao gồm 215 câu hỏi trắc nghiệm,  cần khoảng 3 tiếng 30 phút để hoàn thành, hoặc hơn 4 tiếng một chút nếu thí sinh làm thêm bài thi viết. Có nghỉ giải lao giữa giờ thi. Thời gian làm bài thi không tính giờ nghỉ là 2 tiếng 55 phút, hoặc 3 tiếng 25 phút nếu thí sinh tham dự bài thi viết.

    Thang điểm ACT từ 1 đến 36, bạn sẽ nhận được điểm ACT cho từng phần của bài thi. Điểm ACT được sử dụng để nộp cho trường dự tuyển là điểm ACT trung bình của bốn phần thi. Thí sinh cũng có thể biết được yêu cầu về điểm ACT của trường mình dự tuyển tại đây.

    Khi nào thì nên thi ACT?: Học sinh có thể tham dự bao nhiêu kỳ thi ACT cũng được và tự quyết định chọn kết quả nào tốt nhất để gởi cho trường Đại học. Tuy nhiên, học sinh nên đăng kí thi ACT sớm để có thời gian thi lại nhằm đạt được điểm số mơ ước hoặc dự thi SAT. Thời hạn đăng kí cho kì thi ACT thường khoảng 5 tuần trước ngày thi. Bạn có thể đăng kí dự thi tại trường dự định học hoặc đăng kí trực tuyến tại www.ACT.org.

    7 tháng ago

    SAT và ACT đều là hai kỳ đi chuẩn hóa quốc tế dành cho học sinh, sinh viên muốn du học Mỹ từ bậc đại học. Hầu hết các trường đại học ở Mỹ đều dựa trên điểm SAT hoặc ACT để chấp nhận học sinh vô học.

    Vậy nên lựa chọn kỳ thi nào để tăng cơ hội du học? Hai kỳ thi này có điểm gì khác biệt? Hãy cùng tìm câu trả lời trong bài viết dưới đây nhé.

    8 tiêu chí đánh giá điểm khác biệt của kỳ thi SAT và ACT khi du học Mỹ

    1.Năng khiếu - Thành tích: SAT (Scholastic Aptitude Test) được thiết kế như một bài kiểm tra năng khiếu về khả năng ngôn ngữ, lý luận nằm ngoài những gì bạn được học tại trường trung học. Mặt khác, ACT (American College Testing) là một bài kiểm tra thành tích để đánh giá những gì bạn đã học tại trường. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa “năng khiếu” và “thành tích” là không rõ ràng vì không có bằng chứng cụ thể nào cho thấy học sinh thi SAT hay ACT thì có khả năng trội hơn.

    2. Độ dài bài thi: ACT có 215 câu hỏi cộng với bài luận tùy chọn. SAT có 154 câu hỏi và một bài luận tùy chọn. Thời gian thử nghiệm thực tế cho ACT là 2 giờ 55 phút, trong khi SAT mất 3 giờ 50 phút. Tuy thời gian của SAT có lâu hơn, nhưng nó cho phép học sinh có thêm thời gian cho mỗi câu hỏi.

    3. Kiến thức khoa học: Một trong những khác biệt lớn nhất giữa SAT và ACT là ACT có độ mở câu hỏi rộng trên các lĩnh vực như sinh học, hóa học, vật lý và cả khoa học trái đất. Tuy nhiên, học sinh không cần phải có kiến thức quá cao siêu mới có thể làm tốt. Trên thực tế, các câu hỏi khoa học này tập trung vào khả năng đọc, hiểu biểu đồ.

    4. Kỹ năng viết: Ngữ pháp rất quan trọng cho cả SAT và ACT. Vì vậy, học sinh tham gia một trong hai kỳ thi nên biết quy tắc chia đúng động từ, sử dụng đại từ thích hợp. ACT còn chú trọng nhiều hơn vào dấu câu và cũng bao gồm cả những câu hỏi viết luận đòi hỏi khả năng hùng biện, tranh luận.

    5. Lượng giác: ACT có vài câu yêu cầu kiến thức về lượng giác, trong khi SAT lại không. Vì thế, nếu học sinh muốn thi ACT, nên tìm hiểu và giải thêm các bài tập lượng giác.

    6. Bài luận: Bài luận trong kỳ thi ACT mang tính tùy chọn, mặc dù nhiều trường đại học yêu cầu bài luận này. Sau một thời gian các bài luận SAT mang tính bắt buộc thì trong chương trình SAT mới, các bài luận cũng đã mang tính tự chọn. Điểm khác biệt là vị trí để nhìn nhận vấn đề. Trong khi ACT yêu cầu học sinh tự đưa ra ý kiến, lập luận của riêng cá nhân mình cho vấn đề, thì SAT lại muốn học sinh giải thích cách tác giả xây dựng lập luận của mình.

    7. Từ vựng: Phần đọc hiểu ở SAT chú trọng vào vốn từ vựng hơn là ACT. Nếu bạn có kỹ năng ngôn ngữ tốt, nhưng vốn từ vựng không quá rộng, ACT có thể sẽ là lựa chọn phù hợp hơn cho bạn. Tuy nhiên, với việc đổi mới gần đây, từ vựng ở SAT đã không còn quá đánh đố mà tập trung vào các từ vựng thường được sử dụng trong môi trường học thuật.

    8. Cách chấm điểm: Thang điểm của SAT và ACT là hoàn toàn khác nhau. ACT có tổng số điểm là 36, trong khi mỗi phần của SAT sẽ là 800. Sự khác biệt đáng chú ý là ACT cung cấp số điểm tổng hợp, trong khi SAT tính điểm từng phần. Thông thường, điểm số trung bình để đạt điều kiện nhập học là khoảng 500 cho một phần thi ở SAT và 21 cho ACT.